[CBZ] Bạn biết được bao nhiêu loại giấy nói chung và giấy dùng trong in ấn nói riêng? Hãy cùng khám phá Các loại giấy (in) phổ biến hiện nay thông qua bài viết bên dưới nhé!

Thật là phức tạp nếu trả lời cho câu hỏi “Có bao nhiêu loại giấy hiện nay?“. Những tiêu chuẩn phân loại giấy (in) khác nhau ở mỗi nước và tùy cách chúng được ứng dụng như thế nào… Cách gọi tên các loại giấy thường dựa vào công dụng chính của giấy đó dùng để làm gì, ứng dụng để tạo ra sản phẩm gì…

Các loại giấy in thông dụng nhất hiện nay

Thông thường, khi các bạn tìm hiểu về các loại giấy, sẽ thấy ngay những tên chữ latin của chúng (ví dụ như giấy Couche). Đây chính là những tên quốc tế. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ tìm hiểu theo từng loại tên giấy này, bạn sẽ rất khó khăn trong việc ứng dụng chúng. Chính vì thế, ngoài phân loại theo tên, bài viết này sẽ còn phân loại theo công dụng của từng loại giấy khác nhau.

Giấy in văn phòng, học tập

Giấy Ford

Mẫu Giấy Ford
Mẫu Giấy Ford

Ford là loại giấy phổ biến và thông dụng, thường thấy nhất là giấy A4 trong các tiệm photo. Giấy Ford được làm 100% từ bột giấy, có bề mặt nhám, bám mực tốt. Định lượng giấy Ford thường là 70 – 80 – 90 gms. Chia thành 2 loại:

  • Giấy Ford trắng: Loại giấy này có độ trắng cao (từ 68% trở lên). Đây là loại giấy được sử dụng nhiều trong in bao thư, giấy tiêu đề, in tài liệu trong văn phòng, in sách 1 đến 2 màu
  • Giấy Ford vàng: Giấy có độ trắng thấp (dưới 60%) và thường ngả sang màu vàng. Loại giấy này thường được sử dụng để in sách giáo khoa, sách văn học… Ưu thế của loại giấy này là giá thành tương đối thấp.

Giấy mỹ thuật

Giấy mỹ thuật là loại giấy in cao cấp phục vụ cho việc in ấn bao bì sản phẩm, vật dụng trang trí, và những đồ dùng có tính thẩm mĩ cao như: namecard, hộp giấy, túi giấy, thiệp cưới, thiệp mời, card visit…… Chúng có màu sắc, mẫu mã vô cùng đa dạng. Đa phần, những mẫu giấy loại này khá mỏng và nhẹ. Định lượng giấy mỹ thuật chủ yếu dao động từ 120 – 180 gram/m2.

Nếu bạn cần một sản phẩm bao bì thật sự cao cấp, sang trọng thì giấy mỹ thuật là loại giấy không thể bỏ qua.

Giấy mỹ thuật có bề mặt láng mịn hoặc hơi sần, có thể kết hợp nhiều kỹ thuật khác như tráng ánh nhũ kim, cán gân (nhiều loại gân khác nhau)… tạo hiệu ứng đặc biệt. Các loại giấy mỹ thuật thường dùng như giấy notturno, giấy stardream, giấy safari, giấy plike, giấy monnalisa…

Tuy giá thành cao hơn so với các loại giấy khác nhưng chất lượng và trải nghiệm người dùng mà giấy mỹ thuật mang lại thực sự hiệu quả.

Một số loại giấy mỹ thuật phổ biến:

Giấy Kraft

Mẫu Giấy Kraft
Mẫu Giấy Kraft

Giấy Kraft có tính chất đanh và dẻo dai và tương đối thô. Định lượng giấy Kraft thường dao động khoảng 50 – 135 gms (hoặc tùy vào loại kraft đặc biệt). Giấy Kraft thường là màu nâu vàng, nhà sản xuất có thể tẩy trắng để tăng sáng thành kraft vàng nhạt, trắng sữa…

Giấy Kraft thường được làm túi hàng tạp phẩm, phong bì thư, sổ, lịch… và đóng gói khác.

Giấy Kraft thường bị nhầm lẫn là giấy tái chế, tuy nhiên thuật ngữ giấy Kraft chỉ đơn giản đề cập đến sợi giấy chưa được tẩy trắng. Các sản phẩm giấy kraft có thể được làm từ vật liệu tái chế, hoặc bột giấy 100% nguyên chất.

Tất cả các loại giấy đều làm từ bột giấy như Kraft. Một số được tẩy trắng và nhuộm thành các màu khác như giấy Couche, Duplex… trong khi Kraft giữ nguyên màu gốc (nâu, vàng nâu…) và không có chất tẩy trắng. Do không sử dụng chất tẩy trắng nên các sản phẩm từ giấy Kraft như túi giấy, hộp giấy… thường thân thiện với môi trường hơn.

Giấy bồi

Mẫu Giấy bồi bìa sách
Mẫu Giấy bồi bìa sách

Giấy bồi được hiểu là loại giấy được sử dụng để xếp chồng lên trên một lớp giấy khác nhằm mục đích trang trí. Chính vì thế, màu sắc và họa tiết bề mặt của loại giấy này vô cùng đa dạng. Nó được sử dụng nhiều trong các sản phẩm như hộp giấy, bìa sách, bìa carton, túi giấy, menu… Giấy bồi giúp tăng được sự bắt mắt, ấn tượng cho sản phẩm.

Giấy ánh kim

Mẫu Giấy ánh kim
Mẫu Giấy ánh kim

Giấy ánh kim là loại giấy được phủ lên bề mặt một lớp bụi kim loại lấp lánh đặc trưng. Đó cũng là đặc điểm dễ nhận ra nhất của loại giấy này. Nó có giá trị thẩm mỹ vô cùng cao. Tạo được điểm nhấn, cũng như sự thu hút cho sản phẩm. Màu sắc của loại giấy này cũng rất đa dạng và phong phú.

Giấy in công nghiệp

Giấy in công nghiệp là những loại giấy được sản xuất với khối lượng lớn, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của ngành công nghiệp nói chung.

Một số loại giấy công nghiệp thông dụng:

Giấy Couche

Mẫu Giấy Couche
Mẫu Giấy Couche

Giấy Couche (hay còn gọi là giấy C) là loại giấy có bề mặt bóng, mịn, láng, có độ sáng cao. Đây là loại giấy khi in cho hiệu ứng đẹp mắt, thường mỏng và mềm. Nó phù hợp với nhiều công nghệ in, đặc biệt là in offset. Thường dùng để in tem nhãn, in catalogue, tạp chí, in poster, in brochure… Định lượng giấy Couche vào khoảng 90 – 300 gms.

Giấy Couche được chia thành hai loại:

  • Giấy Couche Gloss (bóng): Tất thông dụng, bề mặt bóng, phản sáng tốt, màu sắc in ấn tươi sáng
  • Giấy Couche Matt (mờ): Bề mặt mờ, nhẵn mịn, không bóng, màu sắc in hơi trầm, dịu nhẹ

Giấy Carbonless

Mẫu Giấy Carbonless
Mẫu Giấy Carbonless

Giấy Carbonless là loại giấy được phủ một lớp hóa chất lên trên bề mặt. Lớp hóa chất này có tác dụng sao chép nội dung đã viết ở tờ giấy trước in lên tờ giấy sau. Chính vì thế, nó có tác dụng thay thế cho giấy than. Loại giấy này được ứng dụng chủ yếu trong việc in ấn hóa đơn, phiếu đặt hàng

Giấy Duplex

Mẫu Giấy Duplex
Mẫu Giấy Duplex

Giấy Duplex có bề mặt trắng và trơn láng gần giống với Bristol, mặt kia thường sẫm như giấy bồi. Giấy Duplex thường chia thành hai loại:

  • Duplex có 2 mặt trắng
  • Duplex có 1 mặt trắng, 1 mặt nhám và tối

Giấy Duplex thường dùng in các hộp giấy, thùng giấy có bồi sóng, kích thước lớn, cần có độ cứng, chắc chắn. Định lượng giấy Duplex thường trên 300 gms.

Giấy Bristol

Mẫu Giấy Bristol
Mẫu Giấy Bristol

Giấy Briston có hai mặt trắng, láng mịn gần giống giấy Couche nhưng thường dày và cứng hơn. In bao bì bằng giấy Briston mặt láng mịn thì thông dụng và được ưa chuộng hơn so với Briston mặt sần.

Briston có bề mặt bám mực tốt, vì thế in offset đẹp, thường dùng in hộp xà bông, mỹ phẩm, dược phẩm, bìa sơ mi, brochure, card, tờ rơi, poster, thiệp cưới, thiệp mời… Định lượng giấy Briston thường thấy ở mức 230 – 350 gms.

Giấy Decal

Mẫu Giấy Decal
Mẫu Giấy Decal

Giấy Decal là loại giấy có một mặt để in, mặt kia phủ keo không ăn mực. Nên cán màng bóng để tăng tone màu và bảo vệ lớp mực. Thường dùng làm các loại tem, nhãn dán lên sản phẩm.

Các loại Decal phổ biến bao gồm:

  • Decal giấy: Là bề mặt in (lớp 1) làm bằng giấy.
  • Decal nhựa: Là bề mặt in (lớp 1) làm bằng nhựa (có 2 loại: nhựa trong và nhựa trắng sữa).
  • Decal bể: Là loại decal mà mặt in được làm bằng một loại giấy đặc biệt, rất dễ vỡ. Khi dán vào sản phẩm thì không thể tháo ra được nguyên vẹn, sử dụng để in các loại tem bảo hành.
  • Decal 7 màu: Là loại decal bóng, khi nhìn vào decal sẽ thấy thật nhiều màu sắc chiếu lên trông rất đẹp.
  • Decal mỹ thuật: Là Decal của giấy mỹ thuật.

Giấy Ivory

Mẫu Giấy Ivory
Mẫu Giấy Ivory

Giấy Ivory là loại giấy có một mặt láng mịn và một mặt nhám. Cả hai mặt giấy có màu trắng hoặc trắng ngà.

Cùng là loại giấy không tráng phủ, so với giấy Ford thì giấy Ivory có nhiều lựa chọn định lượng hơn, có thể đến 350 gsm. Giấy Ivory có độ dày, bền chắc nên sản phẩm bao bì cũng chắc chắn, cứng cáp hơn. Loại giấy này có màu trắng sáng, khi in offset cho thành phẩm với đường nét sắc sảo, chất lượng cao.

Giấy Ivory thích hợp in bao bì yêu cầu độ cao cấp và sang trọng trong lĩnh vực thời trang, mỹ phẩm, quà tặng…

Giấy Conqueror

Mẫu Giấy Conqueror
Mẫu Giấy Conqueror

Giấy Conqueror là loại giấy cao cấp chúng được làm từ bột giấy đẹp nhất, in màu rất đẹp tuy nhiên lại lâu khô, giấy có nhiều các màu sắc khác nhau và có vân như vân gỗ. Giấy Conqueror là loại giấy cao cấp vì vậy thường dùng để in card visit, in ấn phẩm quảng cáo, in kẹp file gửi cho khách hàng… Định lượng giấy Conqueror khoảng 250 – 300 – 350 g/m2.

Một số loại giấy Conqueror hiện nay:

  • Giấy Conqueror Laid: Là dòng giấy Conqueror có tính phổ biến cao, giấy này có đặc điểm đặc biệt đó là có các đường gân ban đầu để canh hàng khi viết tay, loại giấy này rất phù hợp dành để làm văn phòng phẩm và in ấn.
  • Giấy Conqueror Wove: Dòng giấy Conqueror có nhiều màu sắc rất đa dạng sẽ khiến các thiết kế của bạn trở nên phong phú, loại giấy này có thể kết hợp giữa khả năng in ấn rất tốt.
  • Giấy Conqueror Contour: Giấy này tạo nên các hoa văn nổi vân nhẹ tạo cảm giác thú vị cho bạn khi chạm tay vào.
  • Giấy Conqueror CX22: Loại giấy Conqueror này có bề mặt siêu láng và nhẵn bóng, giúp in ấn có độ sắc nét cao, tạo cảm giác sang trọng và thanh lịch trong từng nét bút.

Giấy Conqueror Contour Diamond white 

Mẫu Giấy Conqueror Contour Diamond white
Mẫu Giấy Conqueror Contour Diamond white

Giấy Can

Mẫu Giấy can làm từ sợi tổng hợp hiệu Yupo TPRA
Mẫu Giấy can làm từ sợi tổng hợp hiệu Yupo TPRA

Giấy Can (tiếng Pháp: papier calque, từ can bắt nguồn từ từ tiếng Pháp calque /kalk/) là giấy có khả năng thấu quang cao, nghĩa là có thể cho ánh sáng đi qua. Giấy can có tỷ trọng lớn hơn nước. Đa phần các loại giấy viết, giấy in (copy, laser, offset…) có tỷ trọng nhẹ hơn nước, trừ một số loại như giấy can, giấy in phun mặt bóng, chịu nước, giấy cuse (giấy phấn, giấy láng), giấy tổng hợp (giấy Yupo, giấy Tyvek, giấy polymer…) là chìm trong nước.

Ứng dụng của giấy can:

  • Ứng dụng nhiều nhất của giấy can hiện nay là tạo ra bản phim (Offset Printing plates) trong quy trình in offset, cho những bản in không cần độ chính xác và độ nét cao, do ưu điểm giá thành rẻ hơn bản phim.
  • Giấy can cũng được dùng để can (căn ke, vẽ lại) các bản vẽ, đặc biệt là trong xây dựng, kiến trúc, thiết kế cấp-thoát nước. Một số họa sĩ cũng sử dụng giấy can vào nghệ thuật. Ngoài ra, giấy can còn được dùng làm phong bì cưới, thiếp, giấy mời, tờ lót trong sách, vỏ hộp đĩa CD, danh thiếp, làm giấy gói hàng, bao bì…

Ứng dụng của giấy can được quyết định bởi quá trình gia keo bề mặt (en:Sizing). Giấy can chuyên cho in laser có mức độ gia keo riêng biệt so với giấy can thông thường, là loại được dùng cho nhiều quy trình in ấn: in offset, in laser và in phun màu. Nói chung, giấy can chuyên cho in laser thì không thích hợp với in phun.

  • Giấy can được sử dụng trong công nghệ thêu thùa, may mặc.

Giấy Crystal

Mẫu Giấy in ảnh Crystal
Mẫu Giấy in ảnh Crystal

Giấy Crystal là loại giấy gồm có 2 mặt: một mặt rất bóng, như được phủ một lớp keo; mặt còn lại hơi nhám, thường được dùng như một loại giấy trung gian giữa giấy Bristol và giấy Couche, tùy theo mục đích yêu cầu của sản phẩm.

Giấy Crystal có đặc điểm nổi trội là khi in lên mực không bị nhòe, giúp làm giảm độ vênh của giấy để dễ dàng lật trang khi sử dụng.

Độ bóng của giấy Crystal
Độ bóng của giấy Crystal

Giấy Crystal thường được ứng dụng nhiều trong sản xuất và làm bìa cho các trang tạp chí, sách, báo, truyện… bởi độ láng bóng, in ra màu đẹp của loại giấy này. Ngoài bìa tạp chí, giấy Crystal còn được ứng dụng rộng rãi khi in tờ rơi, tờ gấp quảng cáo (brochure) của các nhãn hàng điện tử, đồ gia dụng bằng cách dính liền 2 tờ Crystal vào nhau để khắc phục mặt nhám còn lại, tạo nên 2 mặt bóng để in quảng cáo hấp dẫn hơn.

Giấy PP

 

Giấy PP là một loại giấy tổng hợp màu trắng và không thể pha được với lớp phủ đặc biệt để in hình ảnh kỹ thuật số. Nó hoàn toàn thân thiện với môi trường để in. Giấy PP được áp dụng để tăng khả năng chống phai và mài mòn của hình ảnh, chủ yếu được sử dụng cho áp phích, màn hình thương mại và triển lãm thương mại. Vật liệu này làm cho đồ họa dễ xử lý và cung cấp độ cứng cần thiết để sử dụng trong khung treo. Phong cách tiêu chuẩn có bóng và mờ.

Sau khi sử dụng laminate, giấy PP chống lại các vết trầy xước, vết bẩn và dấu vân tay trong quá trình xử lý.

PP là một loại giấy trong ngành in ấn kỹ thuật số. Loại giấy này ở mặt sau có thể có thêm lớp keo hoặc không có tùy nhu cầu người dùng. Sau khi in thì mặt trên giấy PP sẽ được phủ một lớp bảo vệ, có thể là bóng hoặc mờ.

Ngoài các loại giấy trên, các loại giấy được sử dụng trong ngành in ấn còn có giấy Carton, giấy Metalidze, giấy thấm dầu… được ứng dụng phổ biến trong ngành in ấn.

Phân loại giấy tại Việt Nam theo bảng phân loại HS

Theo bảng phân loại HS, giấy chủ yếu được xếp vào nhóm 48 (chương 48)

Hệ thống hài hòa (hải quan) là gì?

Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa, thường được gọi tắt là hệ thống hài hòa hoặc hệ thống HS, là hệ thống được tiêu chuẩn hóa quốc tế về tên gọi và mã số để phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới của Tổ chức hải quan thế giới.Các mã số của hệ thống hài hòa được gọi là mã HS. Trong lĩnh vực thương mại, khi cần khai báo nguồn gốc xuất xứ nhằm thu được các ưu đãi về thuế quan được áp dụng cho từng phạm trù quốc gia thì người ta đồng thời cũng thường ghi luôn mã HS để thuận tiện cho việc tính thuế tại các nước nhập khẩu.Tại phiên họp tháng 6/2014, Hội đồng WCO đã thông qua khuyến nghị liên quan đến danh sách những chi tiết sửa đổi trong Danh mục HS, có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 (HS 2017).Kể từ khi phiên bản HS hiện tại (HS 2012) có hiệu lực, Ủy ban HS đã sửa đổi phiên bản HS này trong gần 5 năm. HS 2017 sẽ là phiên bản thứ sáu của HS từ khi Công ước HS có hiệu lực vào năm 1983. HS 2017 sẽ có hiệu lực đối với tất cả các bên ký kết HS, ngoại trừ những sửa đổi bị phản đối. Phiên bản này gồm 234 phần sửa đổi.

1. Giấy in báo, dạng cuộn hoặc tờ: Là loại giấy không tráng dùng để in báo, có tỷ trọng sợi gỗ thu được từ phương pháp chế biến cơ học hoặc cơ-hoá học lớn hơn hoặc bằng 65% tổng lượng sợi, không hồ hoặc dát rất mỏng, có độ ráp bề mặt Parker Print Surt (IMPa) trên 2.5 micromet, định lượng không dưới 40 g/m², nhưng không quá 65 g/m².

2. Giấy không tráng (uncoated paper) được dùng để viết, in và các mục đích in ấn khác; giấy làm thẻ hoặc dải đục lỗ: Nhóm này bao gồm giấy được làm từ bột giấy đã tẩy trắng hoặc bột giấy thu được từ phương pháp chế biến cơ học hoặc hóa cơ, thỏa mãn một trong những tiêu chuẩn sau đây:

2.1. Đối với giấy định lượng ≤ 150g/m²:

2.1.1. Chứa ≥ 10% lượng sợi thu được bằng phương pháp cơ học hoặc hóa cơ, và:

2.1.1.1. Định lượng ≤ 80g/m²; hoặc

2.1.1.2. Nhuộm màu toàn bộ

2.1.2. Chứa ≥ 8% cặn, và:

2.1.2.1. Định lượng ≤ 80g/m²; hoặc

2.1.2.2. Nhuộm màu toàn bộ

2.1.3. Chứa ≥ 3% cặn, có độ sáng ≥ 60%

2.1.4. Chứa ≥ 3% và ≤ 8% cặn, có độ sáng ≤ 60% và chỉ số bục (burst index) ≤ 2.5 kPa.m²/g

2.1.5. Chứa ≤ 3% cặn, có độ sáng ≥ 60%, chỉ số bục (burst index) ≤ 2.5 kPa.m²/g

2.2. Đối với giấy định lượng ≥ 150g/m²:

2.2.1. Nhuộm màu toàn bộ

2.2.2. Có độ sáng ≥ 60% và:

2.2.2.1. Độ dày ≤ 225 micromet, hoặc

2.2.2.2. Độ dày ≥ 225 micromet nhưng ≤ 508 micromet và lượng cặn ≥ 3%

2.2.3. Có độ sáng ≤ 60%, dộ dày 254 micromet và lượng cặn ≥ 8%

3. Giấy vệ sinh, khăn lau mặt, lau tay, khăn ăn và các loại tương tự dùng cho mục đích nội trợ, vệ sinh; giấy nỉ xenlulô và giấy nỉ mỏng bằng sợi xenlulô; có thể đã được làm nhăn, dập nổi, tạo lỗ châm kim, nhuộm màu bề mặt, trang trí hoặc in bề mặt, dạng cuộn hoặc tờ

4. Giấy và bìa Kraft không hồ trắng, dạng cuộn hoặc tờ: Giấy có tỷ trọng sợi gỗ thu được bằng phương pháp chế biến hoá học soda hoặc sunphat chiếm ≥ 80% tổng lượng sợi.

Trong nhóm này có nhóm 4804.11 và 4804.19 giấy gói hàng được hiểu là giấy được hoàn thiện bằng máy hoặc được láng bằng máy, có tỷ trọng sợi gỗ thu được từ phương pháp chế biến hoá học soda hoặc sunphat chiếm ≥ 80%, dạng cuộn, định lượng xấp xỉ 115g/m², có chỉ số cháy Mullerf tối thiểu được tính bằng phương pháp nội suy hoặc ngoại suy tuyến tính theo bảng kết quả dưới đây:

  • Định lượng (g/m²): 115; 125; 200; 300; 400
  • Chỉ số cháy Mullerf tối thiểu: 393; 417; 637; 824; 961

Trong nhóm này có nhóm 4804.21 và 4804.29 “giấy kraft làm bao” là giấy được hoàn thiện bằng máy có tỷ trọng sợi gỗ thu được từ phương pháp ché biến hoá học soda hoặc sunphat ≥ 80%, dạng cuộn, định lượng ≥ 60g/m² và ≤ 115 g/m², thoả mãn một trong các điều kiện sau:

4.1. Có chỉ số cháy Mullen ≥ 3.7 kPa.m²/g và hệ số căng ≥ 4.5% theo chiều ngang và ≥ 2% theo chiều máy

4.2. Có chỉ số độ dai và độ giãn được tính bằng phương pháp nội suy – ngoại suy tuyến tính từ bảng tính dưới đây:

Định lượng (g/m²) 60 70 80 100 115
Độ dai tối thiểu theo chiều máy (mN) 700 830 965 1.23 1.425
Độ dai tối thiểu theo chiều máy + chiều ngang mN 1.51 1.79 2.07 2.536 3.06
Độ giãn tối thiểu theo chiều ngang (kN/m) 1.9 2.3 2.8 3.7 4.4
Độ giãn tối thiểu theo chiều máy + chiều ngang (kN/m) 6 7.2 8.3 10.6 12.3

5. Giấy và bìa không tráng khác, không hồ khác, dạng cuộn hoặc tờ, chưa được gia công thêm hoặc xử lý khác

6. Giấy đã sunphua hoá, giấy chống thấm dầu, giấy can (tracing paper) và giấy bóng kính, các giấy bóng trong và giấy bóng mờ khác, dạng cuộn hoặc tờ

7. Giấy hỗn hợp được làm bằng cách dán các lớp giấy phẳng lại với nhau bởi một lớp keo dính, không hồ trắng hoặc thấm tẩm bề mặt, có hoặc không có gia cố bên trong, dạng cuộn hoặc tờ.

8. Giấy đã gấp nếp làn sóng (có thể đã được dán các tờ phẳng lên mặt) đã làm vân, làm nhăn, dập nổi hoặc soi lỗ, dạng cuộn hoặc tờ

9. Giấy than, giấy tự copy và các loại giấy để sao chụp khác (kể cả giấy đã hồ trắng hoặc thấm tẩm dùng cho máy đánh giấy nến hoặc in bản kẽm) đã hoặc chưa in, dạng cuộn hoặc tờ

10. Giấy đã hồ trắng (giấy tráng – coated paper) 1 hoặc cả hai mặt bằng một lớp cao lanh hoặc các chất vô cơ khác, có thể có thêm chất kết dính, không có lớp phủ ngoài nào khác, có thể đã nhuộm màu bề mặt, trang trí hoặc in bề mặt, dạng cuộn hoặc tờ

11. Giấy nỉ xenlulô, giấy nỉ mỏng bằng sợi xenlulô đã hồ trắng, thấm tẩm, phu nhuộm màu bề mặt, có thể được trang trí hoặc in bề mặt, dạng cuộn hoặc tờ

12. Khối lọc, thanh tấm lọc, bột giấy dạng tấm

13. Giấy cuốn thuốc lá, có thể đã được chia cắt thành miếng nhỏ hoặc cuốn sẵn thành ống

14. Giấy dán tường và các loại giấy phủ tường tương tự

15. Tấm phủ sàn

16. Giấy than, giấy tự copy và các loại giấy dùng để sao chụp khác, giấy nến và các bản in offset bằng giấy

17. Phong bì, thiếp mời, bưu thiếp, danh thiếp, các loại hộp, túi và các sản phẩm tương tự bằng giấy khác để đựng thư từ trao đổi

18. Giấy dùng cho vệ sinh và các loại giấy tương tự, giấy nỉ, giấy nỉ mỏng bằng sợi xenlulô dùng mục đích cắt theo hình dạng, kích thước khăn lau tay, khăn mặt, khăn trải bàn, khăn ăn, tã lót, băng vệ sinh, khăn trải giường, đồ dùng nội trợ, vệ sinh và một số, các vật phẩm trang trí, đồ phụ tùng tương tự

19. Thùng, sắc, túi nhỏ và các loại bao bì khác bằng giấy

20. Sổ đăng ký, sổ sách kế toán, vở ghi chép (Sổ đặt hàng, biên lai), sổ ghi nhớ, nhật ký, vở bài tập…

21. Các loại nhãn bằng giấy hoặc bìa, đã hoặc chưa in

22. Ống lõi, tuýp, suốt, cửi và các loại tương tự bằng bột giấy, giấy hoặc bìa, đã hoặc chưa đục lỗ hoặc làm cứng.

23. Giấy bìa, giấy xenlulo và giấy nỉ mỏng sợi xenlulo khác, cắt theo kích cỡ hoặc mẫu, các vật phẩm khác bằng bột giấy, giấy hoặc bìa giấy, giấy nỉ xenlulo hoặc giấy nỉ mỏng sợi xenlulo

Chương khác: Ngoài ra, có một số loại giấy được phân vào các nhóm khác:

24. Giấy thơm, các loại giấy đã thấm tẩm mỹ phẩm: nhóm 33

25. Giấy hoặc tấm lót xenlulo đã thấm tẩm, tráng, phủ bằng xà phòng hoặc chất tẩy (nhóm 34.01), hoặc bằng các chất đánh bóng, kem hoặc các chế phẩm tương tự: nhóm 34.05)

26. Giấy hoặc cáctông có phủ lớp chất nhạy (Photographic paper): nhóm 37.01 đến 37.04, chưa phơi sáng hoặc đã phơi sáng nhưng chưa tráng

27. Giấy được thấm tẩm chất thử chẩn đoán (Paper chromatography) hoặc chất thử thí nghiệm: nhóm 38.22

28. Giấy được gia cố bằng tấm plastic, hoặc một lớp giấy hoặc cáctông được tráng hoặc phủ một lớp plastic, lớp plastic này dày hơn 1/2 tổng bề dày, hoặc các sản phẩm làm bằng loại giấy này (trừ các tấm phủ tường thuộc nhóm 48.14): nhóm 39

29. Giấy hoặc các tông ráp (Sandpaper): nhóm 68.05; giấy hoặc cáctông bồi mica: nhóm 68.14

5/5 - (2 bình chọn)
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Hãy để lại ý kiến/nhu cầu của bạn!x